Luật Đầu tư chung cùng với Luật Doanh nghiệp (mới) được đánh giá là một bước cải cách mạnh mẽ về môi trường đầu tư của Việt Nam. Luật Đầu tư được xây dựng trong bối cảnh Việt Nam gấp rút đàm phán gia nhập WTO nên yêu cầu phù hợp với thực tế Việt Nam cũng như cập nhật được những cam kết WTO.
Đây là yêu cầu mới và rất phức tạp nhưng các nhà làm luật Việt Nam đã thực hiện tốt. Nhờ đó, luật ra đời không bị lạc hậu, tương thích những quy định và cam kết khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Xây dựng Luật Đầu tư là một ví dụ về nỗ lực xây dựng pháp luật của Việt Nam để trở thành một trong số ít những thành viên hoàn thiện hệ thống pháp lý tương thích với quy định WTO ngay từ khi gia nhập.
Vào WTO luật sẽ phát huy tác dụng
Ông Phạm Mạnh Dũng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cho biết: trong quá trình soạn thảo Luật đều chuyển cho Ban thư ký WTO và các thành viên xem xét. Đây là quá trình rất phức tạp nhưng bắt buộc, không chỉ vì yêu cầu đàm phán mà trước hết là vì nhu cầu cải cách môi trường đầu tư của Việt Nam.
“Vì vậy, trong quá trình soạn thảo và thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, chúng ta đã tính đến các nguyên tắc và yêu cầu của WTO nói chung và của các quốc gia đối tác nói riêng”, ông Dũng cho hay.
Có thể nói, bằng sự cập nhật liên tục, dù Luật xây dựng và được ban hành trong quá trình đàm, chưa kết thúc nhưng khi Việt Nam là thành viên WTO, phải thực hiện các cam kết và quy định cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung của hai luật mới được thông qua. Chúng ta đã tránh được việc phải thay đổi, bổ sung, sửa đổi mỗi khi có thay đổi như trước đây.
Còn theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc, việc chính thức gia nhập WTO sẽ tác động tích cực đến thực hiện luật. Trước hết, việc thực hiện hai luật cùng với các cam kết quốc tế song phương và đa phương đồng nghĩa với cải cách mở cửa một cách toàn diện cả về chiều rộng và chiều sâu của nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi có những thay đổi và cải thiện lớn về tư duy, thói quen, cách thức và năng lực quản lý nhà nước nói chung và triển khai thực hiện 2 luật nói riêng.
Với tư cách là thành viên WTO, chúng ta phải thực hiện các cam kết cụ thể hoá trong luật. Điều này có nghĩa là phải rút ngắn và tiến tới xóa bỏ chênh lệch về thời gian hiệu lực giữa luật và nghị định hướng dẫn; nội dung của nghị định phải phù hợp với tinh thần và nội dung của luật.
Vì vậy, ngay từ khi luật có hiệu lực, chúng ta phải rà soát lại các quy định pháp luật có liên quan, phát hiện các quy định chồng chéo, không tương thích để thống nhất lựa chọn quy định phù hợp để áp dụng hoặc bổ sung, sửa đổi nếu xét thấy cần thiết.
Tinh thần tự do kinh doanh trong luật
Ông Phạm Mạnh Dũng cho rằng tự do kinh doanh - đầu tư là điều mà WTO luôn nhắc đến và hướng tới. Luật Đầu tư mới của Việt Nam đã thể hiện rất rõ tinh thần này. Có thể nói đây là văn bản đầu tiên thể hiện sự thừa nhận về quyền tự do đầu tư và kinh doanh một cách thực sự nhất.
Với tinh thần luật mới, nhà đầu tư được quyết định về đầu tư trong các lĩnh vực pháp luật không cấm hạn chế, tự quyết định về hình thức, quy mô đầu tư, vốn hoạt động đầu tư kinh doanh, chuyển nhượng và điều chỉnh dự án. Được trực tiếp xuất khẩu uỷ thác phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Nhà đầu tư được bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực đầu tư như tín dụng, đất đai, tài nguyên, các tiện ích công cộng, áp dụng giá và phí thống nhất. Được tiếp cận các dữ liệu của nền kinh tế quốc dân và thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư. Tham gia vào quá trình xây dựng văn bản pháp luật. Được khiếu nại, kiện ra toà những tổ chức cá nhân gây cản trở kinh doanh.
Đặc biệt, với tinh thần luật mới, các bộ ngành từ nay trở đi không được ban hành bất cứ văn bản nào cấm và hạn chế đối với đầu tư và sẽ huỷ bỏ toàn bộ những văn bản hạn chế đầu tư. Bên cạnh đó, việc xoá bỏ những rào cản liên quan đến đầu tư cũng được thực hiện mạnh mẽ. Theo đó, chúng ta không còn bắt buộc hay đúng hơn là xóa bỏ những yêu cầu về: ưu tiên mua và sử dụng hàng hoá trong nước; tỷ lệ nội địa hoá; uêu cầu đạt tỷ lệ nhất định về xuất khẩu...
Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng được hưởng sự bảo đảm của Nhà nước cụ thể như: vốn của nhà đầu tư không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Nếu trong trường hợp buộc phải trưng mua và trưng dụng phải được bồi thường trên cơ sở đảm bảo lợi ích nhà đầu tư. Việc giải quyết tranh chấp, nhà đầu tư được tiếp cận toà án, trọng tài quốc tế khi giải quyết tranh chấp.
Theo HNM |